Viêm cầu thận mạn tính có đáng lo?

Thứ năm - 15/08/2019 12:36 8 0

Bệnh tiến triển mạn tính từ từ qua nhiều tháng, nhiều năm dẫn đến xơ teo cả hai thận, sau 10-15 năm sẽ xuất hiện suy thận mạn tính không hồi phục.

Nguyên nhân và yếu tố nguy cơ gây VCTMT

Hay gặp nhất là viêm cầu thận mạn thứ phát sau bệnh lý cầu thận như bệnh cầu thận do Collagenose (luput ban đỏ hệ thống), đây là một bệnh tự miễn, thường gặp ở phụ nữ (95%). Hoặc sự tổn thương cầu thận do bệnh lý mạch máu bởi sự viêm mạch máu nhỏ ở nhiều cơ quan, trong đó chủ yếu là phổi và thận. Bệnh VCTMT cũng có thể xảy ra ở những bệnh nhân mắc chứng xuất huyết dạng thấp (bệnh Scholein- Henoch). Trong một số rối loạn chuyển hóa cũng có thể gây biến chứng VCTMT như bệnh đái tháo đường. Người mắc bệnh do virut viêm gan b, C cũng có thể để lại VCTMT, tuy nhiên tỷ lệ thấp. VCTMT cũng có thể là hậu quả của viêm cầu thận cấp do viêm màng trong tim bởi vi khuẩn liên cầu nhóm D hoặc viêm họng bởi vi khuẩn liên cầu nhóm A (S. pyogenes). Người ta cũng đã gặp các trường hợp viêm cầu thận mạn tính mà hậu quả là do bị bệnh sốt rét hoặc mắc bệnh giang mai do vi khuẩn Treponema palildum...

Người bệnh VCTMT cần do huyết áp thường xuyên để phòng biến chứng. Ảnh: TM

Người bệnh VCTMT cần do huyết áp thường xuyên để phòng biến chứng. Ảnh: TM

Biểu hiện của bệnh

  • Viêm cầu thận mạn tính có đáng lo? - Ảnh minh hoạ 2
  • Viêm cầu thận mạn tính có đáng lo? - Ảnh minh hoạ 3

Khi viêm cầu thận cấp diễn ra trên 3 tháng không khỏi do không được điều trị hoặc điều trị không tích cực, gián đoạn thì sẽ chuyển sang giai đoạn VCTMT. Các chức năng của thận bắt đầu suy giảm một cách từ từ, vì vậy triệu chứng của bệnh rất đa dạng. Hầu hết các trường hợp VCTMT thì có da và niêm mạc nhợt nhạt, ngứa, phù. Phù là một triệu chứng điển hình của viêm cầu thận mạn. Giai đoạn đầu của bệnh có thể phù kín đáo, người bệnh thậm chí không biết mình bị phù. Nếu bệnh bắt đầu nặng thì phù rất rõ như phù mặt, dưới da quanh mắt cá trước xương chày, vùng cùng cụt, dưới da đầu. Đặc điểm là phù mềm, ấn lõm trên một nền cứng như ở mắt cá chân. Khi bệnh nặng thì phù có thể là biểu hiện dưới dạng cổ trướng, tràn dịch màng phổi, tràn dịch màng tinh hoàn. Đa số các trường hợp là ăn kém do chán ăn, đau cơ, nhức xương, buồn nôn hoặc nôn. Dấu hiệu quan trọng nhất của viêm cầu thận mạn tính là tăng huyết áp, đái ra protein và hồng cầu liên tục và kéo dài. Bệnh thường diễn biến thành từng đợt và các triệu chứng đái máu, protein, huyết cao tăng dần lên theo năm tháng. Để xác định VCTMT thì cần khám lâm sàng và làm các thăm dò cận lâm sàng như xét nghiệm nước tiểu để xác định protein, hồng cầu, trụ niệu, trụ hạt.

Với protein niệu trong 24 giờ gần như thường xuyên dương tính và dao động trong khoảng 0,5 - 3g/ngày. VCTMT thường có hồng cầu trong nước tiểu chiếm tỷ lệ từ 60- 80% các trường hợp. Và khi thấy có hồng cầu trong nước tiểu chứng tỏ bệnh đang tiến triển xấu. VCTMT cũng có thể xuất hiện trụ niệu và trụ hạt trong nước tiểu khi xét nghiệm sẽ xác định được. Siêu âm có thể thấy sự bất thường một hoặc cả hai thận (teo nhỏ). Tuy vậy, nếu chụp thận có chất cản quang (UIV) thì thấy đài và bể thận vẫn bình thường. Trong trường hợp thật cần thiết thì có thể sinh thiết thận. Viêm cầu thận mạn tính sẽ làm giảm sức đề kháng của cơ thể do đó người bệnh dễ mắc các bệnh nhiễm trùng như nhiễm trùng hô hấp, nhiễm trùng tiết niệu. Khi bị nhiễm trùng thì lại càng làm cho bệnh viêm cầu thận mạn nặng thêm. Bệnh tiến triển sau nhiều năm sẽ dẫn đến suy thận giai đoạn cuối.  Khi đã có hội chứng thận hư thì tiên lượng rất xấu cho người bệnh.

Phòng bệnh viêm cầu thận mạn tính

Khi đã mắc bệnh viêm cầu thận cấp hoặc các bệnh tự miễn, rối loạn chuyển hóa cần tích cực điều trị theo đơn của bác sĩ. Cần kiểm tra sức khỏe định kỳ nhất là xét nghiệm nước tiểu, creatinin máu, urê máu, siêu âm thận và thường xuyên kiểm tra huyết áp. Cần cho bác sĩ khám bệnh biết về bệnh viêm cầu thận của mình để tránh dùng các thuốc có ảnh hưởng đến chức năng thận như các loại kháng sinh họ aminoglycosides (gentamycine, streptomycine...) hoặc các loại thuốc kháng viêm không thuộc loại corticoides. Nên ăn nhạt, giảm lượng protein theo hướng dẫn của bác sĩ.

Vệ sinh họng miệng sạch sẽ, đánh răng đúng cách và đều đặn cũng là một cách để phòng bệnh. Để phòng bệnh VCTMT bạn cần lưu ý những điều sau:

Khi nghi ngờ mắc bệnh bạn cần đi khám tại các cơ sở y tế uy tín ngay. Không để mắc các bệnh về viêm họng, mụn nhọt, chốc lở (đây là các nguyên nhân gây VCTMT). Cần vệ sinh họng miệng luôn sạch sẽ, đánh răng đúng cách và đều đặn. Cần vệ sinh cá nhân sạch sẽ để tránh các bệnh về da (mụn, nhọt...) Tiêm phòng vắc-xin viêm gan B, không dùng chung bơm kim tiêm. Khám bệnh định kỳ 6 tháng/lần.

Tác giả bài viết: BS. Việt Hưng

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây